tt

2 khách và 0 thành viên

tn

tx

  • (Nguyễn Văn Danh)

Điều tra ý kiến

Theo bạn, cấp học Mầm Non dành cho trẻ em là:
Rất cần thiết cho bước đầu học tập.
Không quan trọng lắm, học hay không cũng được
Nên Giảm bớt chỉ còn hai cấp lớp Chồi và Lá
Không nên có. Nên cho trẻ vào thằng cấp 1
Không ý kiến.

thứ tự dữ liệu

Thk

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Con_chim_vanh_khuyen__2_lan_.mp3 Ong_va_buom__1_lan.mp3 Chu_chuot_nhat_1.mp3 Dung_hai_cot_nhac_beat_mam_non_yeu_ha_noi_1_lan.flv Chu_ga_trong_goi.mp3 Ca_vang_boi.mp3 Chu_chuot_nhat_1.mp3 Mua_xuan_oi.mp3 Karaoke_chu_voi_con_o_ban_don_Beat_chuan__Truong_Xuan.flv Karaoke_chu_voi_con_o_ban_don_Beat_chuan__Truong_Xuan.flv Ds_thanh_vien.png Why_I_do_not_have_friends.png 270.jpg Serie2.jpg Serie1.jpg Owl.jpg ErrorDanhVanNguyen.jpg EmDiChoiThuyen_ko_loi.mp3 EmDiQuaNgaTuDuongPho_Ko_loi.mp3 Di_tren_via_he_ben_phai_beat.mp3

    Visitor

    Flag Counter
    Gốc > Bài viết tổng hợp > Lưu giữ kỉ niệm >

    Lịch sử ngày Quốc lễ

    I. Vài nét về thời Hùng Vương (1)

                                                          Ngàn năm muôn thuở đức Tiên Long
                                                          Bốn bể năm châu đại danh Lạc Việt "


    Theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi là vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỉ.

    02_hungvuong2_500
    Bờ cõi nước Xích Quỉ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải. Mộ phần Kinh Dương Vương, hiện còn tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.

    Kinh Dương Vương làm Vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công Nguyên ). Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Vua Hồ Ðộng Ðình sinh một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi Vua cha niên hiệu là Lạc Long Quân, lấy con gái Ðế Lai là bà Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm người con là tổ tiên của người Bách Việt.

    116

    Một hôm nhà Vua bảo bà Âu Cơ: "Ta là giống Rồng , nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó" Bèn từ biệt , chia năm chục người con theo mẹ lên núi, năm chục người con theo cha về phía nam miền biển. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi Hùng Vương lên ngôi Vua , đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ), chia nước ra làm 15 bộ:

    1.     Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Phú )

    2.     Châu Diên (Sơn Tây).

    3.     Phúc Lộc (Sơn Tây ) .

    4.     Tân Hưng (Hưng Hoá-Tuyên Quang).

    5.     Vũ Ðịnh (Thái Nguyên-Cao Bằng) .

    6.     Vũ Ninh (Bắc Ninh).

    7.     Lục Hải (Lạng Sơn).

    8.     Ninh Hải (Quảng Yên).

    9.     Dương Tuyền (Hải Dương).

    10. Giao chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Ninh Bình).

    11. Cửu Chân (Thanh Hoá).

    12. Hoài Hoan (Nghệ An).

    13. Cửu Ðức (Hà Tĩnh).

    14. Việt Thường (Quảng Bình-Quảng Trị).

    15. Bình Văn ( ? )

    Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ: Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mị nương, các quan nhỏ gọi là Bồ chính Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quí Mão (285 trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.

    hung_vuong

    Từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, tài liệu bị thất lạc qua chiến tranh ? "thương hải biến vi tang điền". từ ngày lập quốc, bị nhiều phen ngoại bang đô hộ, sử sách bị đốt, thất lạc muốn tra cứu rất khó.

    Nhưng không thể nghi ngờ được nguồn gốc văn minh Việt tộc. Truyền thuyết Hùng Vương đã ghi lại từ cuối thế kỷ thứ 14. Sử quan Ngô Sĩ Liên ( ?- 1442) biên soạn Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư hoàn thành năm 1479 chính thức vinh danh các đời vua Hùng Vương trong Quốc sử, ghi nhận các đời vua Hùng Vương có công dựng nước .

    Mỗi người dân Việt Nam chung ta đều tự hào cùng chung nòi giống "Con Lac cháu Hồng" và truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam nhân ngĩ anh hùng.

    II. Lịch sử  ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10-3 (2)

                                                        “Dù ai đi ngược về xuôi

                                                                Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba

                                                                       Khắp miền truyền mãi câu ca

                                                                Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”

     laclongquandenhung

     Đền thờ Lạc Long Quân ở đền Hùng, Phú Thọ

    Câu ca dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.

    Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc.

    Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương trên Đền Thượng.

    Từ xa xưa lễ hội Đền Hùng đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt Nam. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “...Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi...”.

    Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch. Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

     dt_742011928_gioto1

     Hình ảnh Lễ dâng hương Đền Hùng vào năm 1904

    Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”. Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp.

    Sau cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều về thăm viếng. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL - CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương - hướng về cội nguồn dân tộc.

     dt_742011929_gioto2

     Hình ảnh Lễ dâng hương Đền Hùng vào năm 1905

    Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) - năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước đã dâng 1 tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và 1 thanh gươm quý nhằm cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.“

     _denhung

     Lễ Giỗ Tổ ngày nay

    Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin - thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch).

    Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, cụ thể như sau:

    - “Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”; Bộ Văn hoá - Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

    - “Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”; Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

    - “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.

    Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc.

    Trong ngày này, nhân dân cả nước có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước.

    --------------------

    (1) Sưu tầm ở internet

    (2) Theo bqllang.gov.vn


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Phương Mai @ 06:54 19/04/2013
    Số lượt xem: 1882
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Dù ai đi ngược về xuôi...

    Avatar

    Tuy xa xôi nhưng luôn quan tâm đến mọi người. Chúc anh cùng gia đình luôn hạnh phúc, vui vẻ.

    Avatar

    Không còn ai. Ta đi một mình !!!

     
    Gửi ý kiến

    Nói với em

    Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
    Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay,
    Tiếng lích rích chim sâu trong lá,
    Con chìa vôi vừa hót vừa bay.
    Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
    Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
    Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
    Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền.
    Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ,
    Đã nuôi em khôn lớn từng ngày,
    Tay bồng bế sớm khuya vất vả,
    Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay.

    Thơ: Vũ Quần Phương
    Tuyển tập ca khúc thiếu nhi 2010, trang 202
    Trung tâm văn hoá - nhà thiếu nhi TP.HCM

    Chào mừng quý vị đến với Suối Nguồn Yêu Thương.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.