tt

2 khách và 0 thành viên

tn

tx

  • (Nguyễn Văn Danh)

Điều tra ý kiến

Theo bạn, cấp học Mầm Non dành cho trẻ em là:
Rất cần thiết cho bước đầu học tập.
Không quan trọng lắm, học hay không cũng được
Nên Giảm bớt chỉ còn hai cấp lớp Chồi và Lá
Không nên có. Nên cho trẻ vào thằng cấp 1
Không ý kiến.

thứ tự dữ liệu

Thk

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Con_chim_vanh_khuyen__2_lan_.mp3 Ong_va_buom__1_lan.mp3 Chu_chuot_nhat_1.mp3 Dung_hai_cot_nhac_beat_mam_non_yeu_ha_noi_1_lan.flv Chu_ga_trong_goi.mp3 Ca_vang_boi.mp3 Chu_chuot_nhat_1.mp3 Mua_xuan_oi.mp3 Karaoke_chu_voi_con_o_ban_don_Beat_chuan__Truong_Xuan.flv Karaoke_chu_voi_con_o_ban_don_Beat_chuan__Truong_Xuan.flv Ds_thanh_vien.png Why_I_do_not_have_friends.png 270.jpg Serie2.jpg Serie1.jpg Owl.jpg ErrorDanhVanNguyen.jpg EmDiChoiThuyen_ko_loi.mp3 EmDiQuaNgaTuDuongPho_Ko_loi.mp3 Di_tren_via_he_ben_phai_beat.mp3

    Visitor

    Flag Counter

    Ong Do Gia_ Tho Vu Dinh Lien_ Hoang Oanh ngam_

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Lê Trung Chánh (trang riêng)
    Ngày gửi: 08h:26' 22-10-2009
    Dung lượng: 657.5 KB
    Số lượt tải: 67
    Mô tả:
     Ông đồ
                 --- Vũ Đình Liên ---
     
    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu, giấy đỏ
    Bên phố đông người qua

    Bao nhiêu người thuê viết
    Tấm tắc ngợi khen tài
    Hoa tay thảo những nét
    Như phượng múa, rồng bay

    Nhưng mỗi năm, mỗi vắng
    Người thuê viết nay đâu
    Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu

    Ông đồ vẫn ngồi đấy
    Qua đường không ai hay
    Lá vàng rơi trên giấy
    Ngoài trời mưa bụi bay

    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa
    Những người muôn năm cũ
    Hồn ở đâu bây giờ ?


    (1936)

    -------------------

     LÃO TÚ TÀI

    Niên niên đào hoa khai
    Tổng kiến lão tú tài
    Truy nghiễn hồng tiên bãi
    Thông cù nhân vãng lai

    Đa thiểu thị tự giả
    Trách trách tiễn châu ky
    Xảo bút nhất huy tựu
    Long vũ nhi phụng phi

    Lãnh lạc niên phục niên
    Cố khách hà mang nhiên
    Hồng tiên bi sắc thấn
    Truy nghiễn sầu mặc kiên

    Tú tài do tại ti
    Lộ quá hữu thùy tri
    Tiên thượng hoàng diệp lạc
    Thiên biên tế vũ phi

    Kim niên đào hựu tân
    Bất kiến cựu thời nhân
    Thương nhiên không trướng vọng
    Yên tai vạn cổ hồn.

    老 秀 才

    年 年 桃 花 開
    總 見 老 秀 才
    追 硯 紅 箋 擺
    通 衢 人 往 來

    多 少 恃字者
    嘖嘖 羨 珠 機
    巧 筆 壹 揮 就
    龍 舞 而 鳳 飛

    冷 落 年 復 年
    僱 客 何 茫 然
    紅 箋 悲 色 矧
    追 跰 愁 墨 堅

    秀 才猶 在斯
    路 過 有 誰 知
    箋 上 黄 葉 落
    天 邊 細 雨 飛

    今 年 桃 又新
    不 見 舊 時 人
    傷然 空 悵惘
    煙 災萬 古 魂

    -------------

     

    The old scholar

    Translation by Kitty

     

    Each year when the peach trees blossomed,

    The old scholar would be seen,

    His Chinese ink pot and crimson paper spread,

    On the pavement of a crowded street.

     

    Many were those who sought his work,

    Stood, ecstatic, praising: “Under his talented fingers,

    Come out the beautiful characters

    Just like the dragon or the phoenix in evolution.”

     

    But each year the customers were fewer and fewer,

    “Where were gone those who loved his work?”

    The paper, gloomy, lost its crimson sheen,

    The ink was drying in its sorrowful pot.

     

    The old scholar was still there,

    Unseen by the passers-by,

    Dead leaves were falling on the pile of paper,

    The sky was fogged up with drizzle.

     

    This year again the peach trees are in flowers,

    But he is there no more, the ancient calligrapher.

    Men of time long lost,

    Where have gone their soul?

    ---------------

    Sau đây là một bài bình thơ "Ông Đồ Già". Bài này của một tác giả khuyết danh, và đã được đăng trên nguyệt san Kiến Thức Ngày Nay, xuất bản tại Sài Gòn (5/94) 

     

    Vũ Đình Liên -  

     

     

     

    Bình Thơ "Ông Đồ Già"

    Tất cả, năm khổ thơ với vỏn vẹn trăm từ, thoáng qua như một phim tài liệu cực ngắn. Nhưng do đâu điệu buồn của nó chưa thôi day dứt lớp người ở những năm cuối của thế kỷ 20, mà phần lớn xa lạ với Hán học và có khi chưa một lần nhìn thấy hình ảnh ông đồ khăn đóng, áo the của một thời ! Những bạn đọc của thời mở cửa, đang háo hức với một ngoại ngữ phổ biến hơn cả thứ tiếng đã thay thế chữ nghĩa của ông đồ ngày nào, đồng cảm thế nào với bài thơ ? Họ tìm thấy điều gì gần gủi ở ông già cô đơn ấy khi ngay những kẻ cùng thời đã tỏ ra hững hờ ? 

    Trong một bài phỏng vấn, tác giả đã giải đáp hộ điều mà bao lâu những bạn đọc tinh ý lấy làm ngờ. Đúng là nhà thơ có dụng ý mượn hình ảnh hoa đào và không khí bùi ngùi, man mác của Thôi Hộ trong bài Đường thi lưu danh thiên cổ. Lạ cho loài hoa nổi tiếng phương Đông, đẹp và sang đến thế, lại thêm một lần bị thi nhân bắt chứng kiến chuyện biệt ly, dâu bể. Ai chẳng biết so về nhan sắc với mỹ nhân thì chỉ thiệt thòi cho ông đồ già, nhưng sự vắng bóng của ông khi hoa đào y như năm cũ lại nở -- hợp qui luật thiên nhiên mà cũng vô tình biết bao -- vẫn gây được hiệu quả tình cảm và nghệ thuật. 

    Không có cái chắt lọc, đài các như ngôn ngữ Thôi Hộ. Ngôn ngữ của Vũ hiền lành, giản dị, nhịp điệu chậm rãi, khoan thai như bất giác lây lan phong thái của nhân vật "Ông đồ". So với 

              "Mái chèo mơ để bâng khuâng trôi đến 
              Một phương trời mây lạc bóng trăng khuya." 

    cũng chính của tác giả và cùng một đề tài hoài cổ, thì thấy rõ lối hành văn giản dị ở đây là kết quả của sự dụng công. 

    Sự gò bó và giọng đều đều thường thấy ở thơ ngũ ngôn lại giúp cho bài thơ mở đầu có giọng khách quan, kềm chế tình cảm. Hai khổ thơ toàn tả thực cũng hỗ trợ tốt cho mục đích này : 

              "Mỗi năm hoa đào nở
              Lại thấy ông đồ già
              Bày mực tàu giấy đỏ 
              ....
              Bao nhiêu người thuê viết
              Tấm tắc ngợi khen tài."

    Nhưng chỉ qua khổ thơ thứ 3, giọng khách quan này liền bị phá vỡ bởi hai câu thơ vào loại xuất thần : 

              "Giấy đỏ buồn không thắm
              Mực đọng trong nghiên sầu.."

    Chao ôi, đến hoa mà phương Đông tin là có thần, có hồn còn vô tình "y cựu tiếu đông phong", nghĩa là hóa ra vẫn là loài vô tri, vô giác, nói chi hạng giấy, mực. Thứ mực phảng phất sầu và loại giấy buồn mà không thắm ấy chỉ có thể là thứ giấy và mực bị nhòe đi, rưng rưng trước mắt nguời biết chuyện đấy thôi ! 

    Màu giấy đỏ và sắc hoa đào. Những xác lá vàng lay lắt rơi rơi quanh cái dáng đen sẫm, bất động của ông đồ già. Tình người nhạt dần theo mỗi khổ thơ: 

              "Nhưng mỗi năm một vắng 
              Người thuê viết nay đâu ?
              ......
              Ông đồ vẫn ngồi đấy
              Qua đường không ai hay."

    Cho đến khi lụi tàn hẳn, và đất trời hình như cũng muốn hòa vào cuộc ngậm ngùi chung bằng làn mưa bụi bay và cái tiết trời bỗng dưng da diết. 

    Cảnh ấy, sắc ấy, tình ấy hòa hợp với nhau đưa cảm xúc cao dần để tiếng thở dài cuối cùng: 

              "Những người muôn năm cũ
              Hồn ở đâu bây giờ ?"

    trở nên sâu lắng hơn, lay động tình người hơn. 

    Ở mặt khác bài thơ lại đan chéo những cặp đối nghịch: cái tất bật của khách qua đường và sự đơn độc của ông đồ, cái buồn thấu xương của kiếp người bên cảnh phố phường rộn ràng mừng xuân mới, và bất nhẫn làm sao, sự lặng lẽ của người đại diện cuối cùng của nền Hán học tàn tạ, lặng lẽ cả lúc rút lui, lại diễn ra ở một nơi ồn ào, trần ai bậc nhất trên thế gian: hè phố ! Cái đám tang tự đưa giữa phố đông hững hờ mà người tri âm duy nhất lại có mặt khi cỗ xe khuất bóng từ lâu rồi ! 

    Có sự dồn nén thái quá những cặp hòa hợp và đối nghịch trên vuông thơ nhỏ hẹp có 100 từ này. Nhưng là sự thái quá làm nên kiệt tác. Mỗi chúng ta sau phút lặng người, và gần như tránh mặt nhau vì cái cảm giác đồng trách nhiệm nào đó, bỗng bắt đầu giành nhau lên tiếng. Nhưng tất cả như bị hút, bị dạt đi trong cái từ trường do chính sự im lặng của nhân vật. Vâng, âm thanh có trọng lượng nhất mà bài thơ tạo được chính là sự im lặng tuyệt đối của ông đồ. Nó đè nặng lên tim. Nó khuấy động não bộ. Nó tạo trạng thái tinh thần bất ổn cần thiết để đối mặt với bất cứ một vấn đề nghiêm túc nàọ.  Có điều đâu thực sự là vấn đề, là tầng cảm xúc chính của bài thơ ? 

    Theo Hoài Thanh thì "Ông Đồ" là "lời sám hối của cả bọn thanh niên chúng ta đối với lớp người đang đi về cõi chết", những con người mà một thời họ đã "xúm nhau lại chế giễu họ quê mùa, mạt sát họ hủ lậu". Nhà phê bình đã có một trích dẫn quan trọng từ bức thư của chính Vũ Đình Liên: "Ông chính là di tích đáng thương của một thời tàn", và dựa vào ý này, tác giả "Thi nhân Việt Nam" kết luận: "Bài thơ của người có thể xem là một việc nghĩa cử"

    Sẽ là một chuyện thất lễ và dường như vô lý nữa khi nghi ngờ ý kiến của chính tác giả và nhà phê bình uy tín. Nhưng khi ở một đoạn khác, Hoài Thanh gọi đối tượng của nhà thơ bằng cụm từ không úp mở "Những kẻ thân tàn ma dại" đang "đi về cõi chết" thì chúng tôi e rằng giọng tuyên ngôn hùng hồn mà ông bắt buộc phải dùng khi hạ huyệt thơ cũ và tôn xưng vị trí của thơ mới có ảnh hưởng phần nào tới việc bình thơ chăng ? Nếu đọc một bài thơ khác cũng cùng điệu hoài cổ, bài "Lòng ta là một hàng thành quách cổ", chúng ta nhận ra giọng thương tiếc trang trọng hơn là lối thương hại của kẻ thắng cuộc. Và tiếng thở dài băn khoăn ở cuối bài thơ "Ông Đồ" có một chiều sâu hơn thứ tình cảm biết điều của người đang đi dự tang lễ, đang đi làm chuyện nghĩa cử. Khi một cực là Đường Thi với Thôi Hộ, và cực kia là ý thơ của Francois Villon (Làm sao tìm lại được tuyết năm xưa ? Mais où sont les neiges d'antan ?) đã gợi hứng cho "Ông Đồ" như chính tác giả thừa nhận, thì cái sầu thuần một màu tê tái trong cả hai dòng thơ Đông Tây rõ ràng cùng một gam màu với điệu buồn trong những câu thơ của Vũ Đình Liên. Nói khác đi, sự dùng dằng kẻ ở người đi trong cõi nhân tình không thể giản đơn, rành rẽ mới, cũ như những nhà chính luận mong muốn. Nghệ thuật luôn cần cái lung linh mê hoặc dễ len vào hồn người\. 

    Nhưng hoài cổ ở đây không phải là tiếc nuối thứ chữ "rồng bay phượng múa" của ông đồ. Từ ngày ông đồ già không trở lại, xã hội đã mấy lần chứng kiến cảnh thay bậc, đổi ngôi về ngôn ngữ -- bản thân nhà thơ là một người giỏi tiếng Pháp, thứ ngôn ngữ đã thay thế thứ chữ mà ông đồ đã viết trên giấy hồng điều thuở nào -- nhưng không thấy sáng tác nào về "Ông đồ" Tây hay "Ông đồ" Nga ... xuất hiện. Chưa nói dẫu có, chúng cũng không thể tạo được sự đồng cảm rộng rãi như đã thấy với "Ông đồ". 

    Sự thực, sự thay đổi từ Hán học qua Tây học có một ý nghĩa đặc biệt của nó. Suốt bao thế kỷ, Hán học gắn với dân tộc, gắn với những giá trị nhân bản của phương Đông. Đấy là thứ chữ ông cha ta đã dùng để trước tác. Nó không những là ngôn ngữ hành chính, thi cử mà còn là ngôn ngữ tâm linh của đền chùa, kinh kệ, văn tế... Tựa như gác chuông, tháp chùa, hình ảnh ông đồ, câu đối... từ lâu đã thân thuộc với mọi người\. Đã đành việc thế chân của Tây học là một tất yếu của thời đại và của hoàn cảnh đất nước ngày đó. Chưa nói cái học từ chương, nệ cổ đã góp phần suy vi sức mạnh của dân tộc. Nhưng một dân tộc tự trọng từng trải qua bao thế kỷ tự chủ và từng dùng chữ Hán như ngôn ngữ chính của một quốc gia độc lập, không thể quên rằng Tây học đã "nhập khẩu" vào đất nước mình như một áp đặt cùng với tàu chiến và đại bác, mà cảnh sụp đổ của cái học cũ luôn gợi lại vết thương vong quốc của mình. 

    Và có thể vượt qua ý đồ của tác giả và nhà phê bình, bài thơ đã tìm thêm được sự đồng cảm trong tâm thức dao động, phức tạp của cả một dân tộc trong buổi giao thời khi giá trị truyền thống có nguy cơ mai một. Trong lúc cái mới chưa thu phục được nhân tâm, nó đánh vào lòng tự trọng bị xúc phạm và cả tâm lý phù suy, xót thương kẻ khó. Mặt khác, nó còn gợi tâm trạng khắc khoải đi tìm nguồn cội trước một cuộc triển lãm khổng lồ của những cảnh lố lăng, kệch cỡm thường thấy ở các buổi giao thời. 

    Sự biểu lộ tình cảm với ông đồ già và sự lưu luyến với hình ảnh đã mai một ấy trong lòng bạn đọc suốt hơn nửa thế kỷ qua, hẳn phản ảnh những tâm sự phức tạp, những ưu tư đa dạng hơn chúng ta tưởng. 

    Cuối thế kỷ 20, con tàu Việt Nam lại đang qua ngã rẽ mới. Không còn không khí tủi buồn thuở nào. Đất nước đang lạc quan. Nhưng tình tự về nguồn và việc xác lập lại những giá trị tinh thần đã được thử thách của dân tộc ở mặt nào đó sẽ gặp thách thức. Buổi "giao thời" hôm nay vẫn hứa hẹn những hoạt cảnh lố lăng, lai căng mà hơn một lần chúng ta đã chứng kiến. Sự vồ vập với những giá trị ngoại lai đáng nghi ngại, thái độ "vô tri bất mộ" đối với di sản quý báu của người đi trước, và nói riêng mặt ngôn ngữ, tiếng nói cha ông đang có nguy cơ trở thành một thứ "ngoại ngữ" thất sủng ngay trên quê hương mình. 

    Và vì vậy, người ta vẫn còn ngậm ngùi, băn khoăn khi đọc "Ông Đồ". Việc rút lui lặng lẽ không đơn từ khiếu nại của ông không chỉ gợi thương tâm, mà tiếp tục mời gọi, khuấy động những vấn đề sâu xa cho xã hội cùng suy ngẫm. 

    Tôi ngờ rằng đấy chính là tầng cảm xúc của bạn đọc thời nay.

     

     
     

    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Mong cùng thầy chia sẻ...
     
    Gửi ý kiến

    Nói với em

    Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
    Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay,
    Tiếng lích rích chim sâu trong lá,
    Con chìa vôi vừa hót vừa bay.
    Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
    Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
    Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
    Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền.
    Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ,
    Đã nuôi em khôn lớn từng ngày,
    Tay bồng bế sớm khuya vất vả,
    Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay.

    Thơ: Vũ Quần Phương
    Tuyển tập ca khúc thiếu nhi 2010, trang 202
    Trung tâm văn hoá - nhà thiếu nhi TP.HCM

    Chào mừng quý vị đến với Suối Nguồn Yêu Thương.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.